Vịnh Mốc (xã Vĩnh Thạch) là một làng quê nằm trên một khu đồi đất đỏ sát bờ biển, cách thị trấn Hồ Xá của huyện Vĩnh Linh khoảng 14km về phía đông, cách Cửa Tùng 6km về phía bắc. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Vịnh Mốc là tiền đồn của miền bắc và cũng là điểm tập trung chi viện cho đảo Cồn Cỏ, hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng trong việc án giữ vùng biển Vĩnh Linh.

Gần 40 năm, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thống nhất, dân tộc ca khúc khải hoàn trong niềm vui đoàn tụ. Những gì minh chứng về cuộc chiến vệ quốc vỹ đại vẫn còn đó và nguyên giá trị, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Địa đạo Vịnh Mốc trở thành huyền thoại, là công trình xây dựng biểu trưng cho sức mạnh, trí tuệ, lòng dũng cảm của dân tộc Việt Nam. Thể hiện sức sống kiên cường, bất diệt của những người con đất thép huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Dẫu chiến tranh đã lùi xa, nhưng những gì vẫn được lưu giữ là minh chứng cho sức mạnh vỹ đại của toàn dân tộc và sự tàn phá khốc liệt của đế quốc Mỹ.

map-of-the-vinh-moc-tunnel-complex-dong-ha

Đến hôm nay, khi những người từ bên kia giới tuyến quay trở lại và trải nghiệm ngay trên chính những gì vỹ đại mà dân tộc Việt Nam tạo nên để duy trì sự sống và trải qua. Phần nào giúp họ giải thích vì sao một dân tộc nhỏ bé, được trang bị vũ khí thô sơ lại chiến thắng một cường quốc với sức mạnh quân sự hùng mạnh khiến cả thế giới khiếp sợ.

Thật khó có thể hình dung một mảnh đất nhỏ bé chưa đầy 820km2 như Vĩnh Linh đã phải chịu đựng một khối lượng bom đạn khổng lồ của quân đội Mỹ từ nhiều hướng dội xuống. Trên không đủ các loại máy bay, kể cả pháo đài bay B52, (một trong những loại máy bay ném bom chiến lược hiện đại nhất của quân đội Mỹ ở thời kỳ đó) thi nhau thả đủ các loại bom xuống Vĩnh Linh; Ở phía bên bờ Nam vĩ tuyến, hàng rào điện tử M.c.Namara với hàng chục cụm pháo chĩa nòng sang bờ Bắc sông Bến Hải liên tục nhã đạn; Ở ngoài biển Đông, tàu chiến từ Hạm đội 7 ngày đêm không ngừng nã pháo vào Vĩnh Linh. Trong suốt thời gian dài (1965 – 1972), hầu như không ngày nào ở Vĩnh Linh ngớt tiếng đạn nổ bom rền. Kẻ thù đã ném xuống nơi đây hơn nửa triệu tấn bom đạn, tính bình quân vào thời kỳ đó mỗi người dân Vĩnh Linh đã phải chịu đựng 7 tấn bom đạn các loại.

Với truyền thống kiên cường, người dân Vĩnh Linh đã không quản ngại hy sinh gian khổ, một lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, đã đoàn kết, bám đất, giữ làng và chiến đấu chống lại kẻ thù và chi viện sức người, sức của cho đồng bào, chiến sỹ bờ nam sông Bến Hải. Giữ vững niềm tin vào ngày chiến thắng, đất nước hoàn toàn được độc lập, non sông thu về một mối, nam bắc sum họp một nhà. Chính ý chí kiên cường, sự sáng tạo tuyệt vời của những con người nơi vùng đất lửa Vĩnh Linh đã tạo nên những công trình phòng tránh hết sức độc đáo và vĩ đại của thế kỷ XX. Đó là hệ thống làng hầm, địa đạo nằm sâu trong lòng đất mẹ thân yêu để sau này trở thành “huyền thoại”.

dia dao vinh moc

Với khẩu hiệu “Một tấc không đi, một ly không rời”, “Mỗi làng, xã là một pháo đài chiến đấu”, cả Vĩnh Linh thực hiện chủ trương tiến sâu vào trong lòng đất. Mọi nhà, mọi xóm thôn, người người đào địa đạo, có thể nói không khí đào địa đạo của người dân vùng đất thép Vĩnh Linh trở nên quyết liệt hơn, khẩn trương bao giờ hết, nhất là từ khi đế quốc Mỹ tiến hành đánh phá Vĩnh Linh mang tính hủy diệt. Đến cuối năm 1968, gần 70làng của 15 xã, thị trấn trên địa bàn Vĩnh Linh đã có địa đạo. Địa đạo lúc này không còn đơn thuần là những đường hầm trú ẩn và chiến đấu như ở Củ Chi mà thật sự đã trở thành một không gian sinh tồn của người dân vùng “đất lửa”

Với tinh thần “Nhà che nắng che mưa, hầm che xương che thịt” và với chủ trương “Quân sự hóa toàn dân, Công sự hóa toàn khu vực”. Chỉ trong vòng 3 năm (1964 – 1966), toàn xã Vĩnh Thạch đã đào được 51.470m giao thông hào, 2.000 hầm cá nhân, 860 căn hầm chữ A, 803 căn hầm sinh hoạt, 541 hầm cho gia súc, 433 căn hầm để cất giấu tài sản và hàng chục căn hầm giành cho các lớp học, cho cơ quan Đảng ủy, UBND xã và hợp tác xã làm việc. Trong đó đáng kể nhất là công trình làng địa đạo Vịnh Mốc, Địa đạo Vịnh Mốc (làng hầm Vịnh Mốc) là một công trình đồ sộ, một kỳ tích vỹ đại thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Vĩnh Thạch lúc bấy giờ. Địa đạo Vịnh Mốc tọa lạc trên quả đồi đất đỏ bazan, có độ cao hơn 28 m so với mực nước biển. Cấu trúc của địa đạo Vịnh Mốc dài 1701m, là sự nối thông của 3 địa đạo. Địa đạo của quân dân thôn Vịnh Mốc; địa đạo của quân dân thôn Sơn Hạ và địa đạo của lực lượng Công an vũ trang đồn 140.

Toàn bộ cấu trúc của địa đạo Vịnh Mốc gồm có 3 tầng với độ sâu 23m so với mặt đất, chiều dài tổng thể là 1.701m, gồm có 13 cửa ra vào địa đạo (trong đó có 6 cửa được thông lên đồi, 7 cửa thông ra hướng biển) và 3 giếng thông hơi. Để đào và hoàn thành địa đạo Vịnh Mốc, dân quân và nhân dân thôn Vịnh Mốc, Sơn Hạ và lực lượng Công an vũ trang đồn 140 đã huy động hơn 18.000 ngày công, đào và vận chuyển hơn 6.000m3 đất đá. Toàn bộ đường hầm địa đạo Vịnh Mốc được chia thành 3 tầng và được nối thông với nhau qua trục chính dài 870m. Tầng 1 sâu cách mặt đất từ 8 – 10m ; tầng 2 sâu cách mặt đất từ 12 – 15m ; tầng 3 sâu cách mặt đất 22 – 23m . Đường hầm địa đạo có dạng hình vòm kết hợp với tính đàn hồi, chịu lực của vùng đất đỏ bazan ở đấy đã tạo nên độ vững chắc cho địa đạo Vịnh Mốc. Chiều cao của đường hầm địa đạo từ 1,2 x 1,8m; để có thể đi lại trong lòng địa đạo một cách thuận lợi, các cửa của địa đạo được nối với hệ thống giao thông hào và các trục đường chính của địa đạo. Dọc hai bên đường hầm người ta cho khoét sâu vào bên trong để tạo ra các ô nhỏ (căn hộ gia đình) đủ chổ cho từ 2 đến 4 người có thể sinh hoạt trong đó. Mặt bằng của đường hầm địa đạo Vịnh Mốc được đào nghiêng từ 8 – 120 từ Nam về Bắc, từ Tây sang Đông để để dàng thoát nước chóng bị ứng đọng nước trong lòng địa đạo. Ngoài ra trong lòng địa đạo Vịnh Mốc còn có các công trình khác như: ở vị trí trung tâm của địa đạo Vịnh Mốc có hội trường với sức chứa từ 50 – 60 người làm nơi hội họp, sinh hoạt, xem phim, biểu diễn văn nghệ, bảng tin, nhà hộ sinh, 3 giếng nước để sinh hoạt, nhà vệ sinh, trạm phẩu thuật, bếp nấu ăn (bếp Hoàng Cầm), kho chứa lương thực, nơi đặt máy điện thoại…

dia dao vinh moc 2

Với những giá trị lịch sử to lớn đó, năm 1976, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch) đã đặc cách công nhận di tích địa đạo Vịnh Mốc là di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia. Sau khi được công nhận là di tích cấp quốc gia, ngoài vấn đề bảo tồn các giá trị gốc của di tích các cơ quan chức năng đã nhiều lần tiến hành trùng tu tôn tạo một số hạng mục trong khuôn viên di tích nhằm phát huy tác dụng trong việc khai thác du lịch góp phần phát triển kinh tế địa phương. Trong nhiều năm qua địa đạo Vịnh Mốc đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan

Tháng 3/2014, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu, tập hợp tư liệu lịch sử, khoa học để lập hồ sơ Di tích quốc gia đặc biệt đối với hệ thống làng hầm Vĩnh Linh và địa đạo Vịnh Mốc.

Hiện địa đạo Vịnh Mốc là địa danh ngày càng thu hút du khách trong nước và nước ngoài khi đến thăm Quảng Trị.

Bình luận